Cơm hến, bánh canh - món ngon nặng tình xứ Huế

Dù đổi thay khá nhiều, Huế vẫn như một “nốt trầm” êm dịu giữa các đô thị hiện đại khác. Đây cũng là nơi sở hữu những món ăn dân gian, truyền thống, thuần túy, ngon và rẻ nhất. Không ồn ào, không phát triển du lịch bằng mọi giá, các làng ẩm thực ở Huế sẵn lòng mời gọi du khách thăm viếng thiên nhiên tuyệt đẹp và cuộc sống đơn sơ của họ một cách chân thật.

 

Thuyền khai thác hến trên sông Hương

Cồn Hến (thuộc phường Vỹ Dạ, thành phố Huế) như một hòn đảo nhỏ nổi lên giữa dòng Hương Giang. Phía Đông có một chiếc cầu nhỏ nối liền với đường Ưng Bình - Nguyễn Sinh Cung để vào thành phố. Phía Tây đi sang phố cổ Gia Hội bằng đò máy. Thời nhà Nguyễn đặt tên cho làng là “Giang Hến”, ngụ ý nói dân làng sống bằng nghề cào hến trên dòng Hương Giang. Tháng 6 âm lịch hàng năm có lễ hội tế hến rất long trọng. Ngày rằm, mùng 1 hàng tháng dân làng nghỉ không đi làm. Đây cũng là cách để giữ gìn, bảo tồn loài hến trên sông Hương. Không thể biết chính xác từ năm nào và ai là người đã khai sinh ra món cơm hến xứ Huế nhưng chắc chắn rằng sau đó, món ăn dân gian này đã thâm nhập vào cung đình nhà Nguyễn vì nó ngon và lạ.

Để có nguồn thực phẩm chế biến, bất kể ngày mưa rét hay nắng nóng dân cào hến đều dong thuyền đi khai thác ở vùng hạ lưu sông Hương. Đặc biệt làn nước sông trong xanh, chở chất hương liệu từ loài hoa “Thạch xương bồ” ở đầu nguồn về, đã khiến thịt con hến sông Hương cực kỳ ngon ngọt; không tanh, không mặn, chát như hến những con sông khác. Từ hòn đảo này món cơm hến đã trở thành một thương hiệu ẩm thực của Huế. Nó cũng theo người Huế đi khắp các vùng miền đất nước.

Cơm hến ngày nay đã trở thành một đặc sản của thương hiệu ẩm thực Huế

Nam Phổ (thuộc xã Phú Thượng, Phú Vang) là một làng quê thuần nông trù phú, thịnh vượng. Từ đây theo đường Nguyễn Sinh Cung hay Phạm Văn Đồng lên đến Tp. Huế khoảng 5 cây số. Nếu đi qua cầu Chợ Dinh đến phố cổ Gia Hội thì gần hơn nửa đường. Vào thời Nguyễn, làng Nam Phổ vốn nổi tiếng nhờ một đặc sản - cau ăn trầu. Hò Huế có câu: “Ru em cho théc (ngủ) cho muồi (say)/ Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu/ Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu/ Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh”. Cau Nam Phổ ngày nay chỉ trồng cho đẹp nhà chứ không có giá trị kinh tế nữa. Nhưng dân làng lại sống bằng nghề kinh doanh đặc sản ẩm thực. Trong đó nổi tiếng nhất là món bánh canh! Gọi là bánh bởi vì phải nhồi bột (gạo) như thể làm các thứ bánh khác (bánh nậm, bánh lọc, bánh ít, bánh bèo). Khi nhồi xong lại phải vắt (cắt) thành từng sợi ngắn nhỏ vào nồi nước dùng nên gọi là canh. Để phân biệt với món bánh canh của các vùng miền khác thì bánh canh ‘Nam Phổ’ hơi đặc, sền sệt chứ không loãng. Những phụ nữ trong làng bắt đầu đi bán hàng rong từ 13-14 giờ chiều mỗi ngày. Dễ nhận ra họ vì trên quang gánh chủ yếu là nồi bánh canh to tướng. Gánh bánh canh hàng rong của những phụ nữ Nam Phổ trên đường phố Huế đã tạo nên thương hiệu độc đáo không lẫn vào đâu được. Tô bánh canh chính hiệu Nam Phổ giờ đây là món ăn mà bất cứ khách du lịch trong và ngoài nước mỗi khi đến Huế đều không thể bỏ qua.

Báo Du lịch

Tin cùng chuyên mục

Video quảng bá du lịch

Thương hiệu du lịch hàng đầu

TRAVEL GUIDE BOOK

Khám phá du lịch Việt Nam